Cán cân thương mại Việt Nam tháng 1/2026 thâm hụt gần 1,8 tỷ USD: Xuất khẩu phục hồi mạnh nhưng vẫn nhập siêu

Tác giả

Phạm Văn Trí

Ngày đăng

10-02-2026 12:00

Lượt xem

9

Yêu thích

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tháng 1/2026 tăng mạnh

Theo báo cáo sơ bộ của Cục Hải quan, trong nửa cuối tháng 1/2026 (16–31/1), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam đạt khoảng 48,58 tỷ USD, tăng 23,48% so với kỳ 1 tháng 1/2026 và tăng 41,56% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung cả tháng 1/2026, trị giá xuất nhập khẩu đạt 88,16 tỷ USD, tăng 23,48% so với năm 2025.


Xuất khẩu tăng tốc trong nửa cuối tháng 1/2026

Xét riêng xuất khẩu, trong 15 ngày cuối tháng 1/2026, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 25,08 tỷ USD, tăng 38,94% so với nửa đầu tháng.

Động lực tăng trưởng chủ yếu vẫn đến từ nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, nổi bật là:

  • Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

  • Điện thoại các loại và linh kiện

  • Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

Ba nhóm hàng này chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của khối FDI, phản ánh vai trò chi phối của các tập đoàn đa quốc gia trong cơ cấu xuất khẩu Việt Nam.


3 nhóm hàng tăng mạnh nhất: điện thoại, máy móc và điện tử

So với 15 ngày đầu tháng 1/2026, trong kỳ 2 tháng 1/2026, mức tăng nổi bật ghi nhận ở 3 nhóm hàng chủ lực:

  • Điện thoại các loại và linh kiện: tăng 1,58 tỷ USD (tương đương 77,12%) – tăng cao nhất

  • Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác: tăng 1,13 tỷ USD (tương đương 52,99%)

  • Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: tăng 1,09 tỷ USD (tương đương 25,89%)

Đây cũng là ba nhóm duy nhất tăng trên 1 tỷ USD, cho thấy xuất khẩu tiếp tục tập trung cao vào các ngành công nghệ cao, thâm dụng vốn và kỹ thuật.


Khu vực FDI chiếm gần 78% xuất khẩu: dấu hiệu phụ thuộc lớn

Trong tháng 1/2026, tổng trị giá xuất khẩu của khu vực FDI chiếm gần 78% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, đạt 33,64 tỷ USD, tăng tới 43,32% so với tháng 1/2025.

Đáng lưu ý, ở các nhóm hàng như điện tử, máy tính, điện thoại, tỷ trọng của khu vực FDI lên tới khoảng 99%. Điều này cho thấy doanh nghiệp trong nước vẫn chưa tham gia sâu vào các khâu giá trị gia tăng cao như thiết kế, nghiên cứu – phát triển (R&D) và sản xuất linh kiện cốt lõi.

Hàm ý chính sách: Thực trạng này đặt ra yêu cầu đẩy nhanh phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng liên kết FDI – doanh nghiệp nội địa, nâng tỷ lệ nội địa hóa, và giảm rủi ro trước biến động chuỗi cung ứng toàn cầu.


Một số nhóm hàng tăng đột biến: than, phân bón, sắt thép

Trong kỳ 2 tháng 1/2026, nhiều nhóm hàng ghi nhận tăng trưởng mạnh so với kỳ 1:

  • Than: tăng gần 12 lần, đạt 11,9 triệu USD – tăng cao nhất

  • Phân bón: tăng 232,5%

  • Sắt thép: tăng 121,92%

Nhìn chung, hầu hết các nhóm hàng đều cải thiện trong kỳ 2, ngoại trừ một số nhóm liên quan nhiên – vật liệu:

  • Quặng và khoáng sản khác: giảm 23,16%

  • Clanhke và xi măng: giảm 5,99%

  • Xăng dầu: giảm gần 70%


Xuất khẩu tháng 1/2026 đạt 43,19 tỷ USD, tăng hơn 30%

Tính chung cả tháng 1/2026, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam đạt 43,19 tỷ USD, tăng 30,13% so với cùng kỳ năm ngoái.

Hai nhóm dẫn đầu đà tăng trên 1 tỷ USD gồm:

  • Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: tăng 57,92% so với tháng 1/2025

  • Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác: tăng 40,52% so với tháng 1/2025

Ngoài ra, xuất khẩu cũng cải thiện nhờ nhóm ngành thức ăn chăn nuôi và sản phẩm truyền thống, góp phần đa dạng hóa cơ cấu:

  • Thức ăn gia súc và nguyên liệu: đạt 154,44 triệu USD, tăng 111,75% so với cùng kỳ.


Một số nhóm giảm mạnh: gạo, xăng dầu và dầu thô

Ở chiều ngược lại, chỉ có 3 nhóm hàng giảm kim ngạch trong tháng 1/2026:

  • Gạo

  • Xăng dầu: giảm 67,82% so với năm 2025

  • Dầu thô: giảm 81,9% so với năm 2025


Kết luận: Xuất khẩu phục hồi nhưng nhập siêu vẫn gần 1,8 tỷ USD

Dù xuất khẩu phục hồi mạnh trong nửa cuối tháng 1/2026 và có thời điểm cán cân thương mại chuyển sang thặng dư theo kỳ, tính chung cả tháng Việt Nam vẫn nhập siêu gần 1,8 tỷ USD. Đồng thời, mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI vẫn rất lớn, cho thấy nhu cầu cấp thiết trong việc phát triển doanh nghiệp nội địa, công nghiệp hỗ trợ và tăng tỷ lệ nội địa hóa để nâng sức chống chịu trước biến động toàn cầu.